Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Vùng 12 hải lý là gì?

Theo luật pháp quốc tế truyền thống, một đảo có quyền có lãnh hải như lãnh thổ đất liền. Trong Hội nghị Pháp điển hoá Luật pháp quốc tế La Haye năm 1930, Uỷ ban II của Hội nghị đã khuyến nghị "tất cả các đảo đều có lãnh hải riêng". Nhìn chung, quan chức đại diện các quốc gia tham gia Hội nghị đều tán thành khuyến nghị đó. Hồi ấy các nước xác định chiều rộng lãnh hải là 3 hải lý, giống như lãnh thổ đất liền.

Vung 12 hai ly la gi?Ảnh minh họa: pweb.com
Sau Tuyên bố Truman vào năm 1945, theo đó Chính phủ Mỹ mở rộng quyền tài phán đối với thềm lục địa ngoài bờ biển của Mỹ, năm 1952, chính phủ các nước như Chile, Costa Rica, Ecuador và Peru cũng đã tuyên bố "mọi hoặc một nhóm đảo hình thành một phần lãnh thổ của quốc gia" đều có vùng biển với chiều rộng 200 hải lý.
Trong Hội nghị của Liên Hợp Quốc về luật biển lần thứ nhất, việc một đảo có lãnh hải không còn là vấn đề gây tranh cãi. Trong Hội nghị, đại biểu của các quốc gia thảo luận hai vấn đề: Những loại đảo hưởng quy chế đảo (có lãnh hải riêng) và chiều rộng của lãnh hải. Các đại biểu không đạt được sự đồng thuận về chiều rộng của lãnh hải, nhưng đã đưa ra một định nghĩa đảo tương đối tiến bộ so với những định nghĩa đảo trước kia, theo đó lãnh hải đảo được xác định theo đúng các qui định của Công ước dành cho lãnh thổ đất liền. Sau Hội nghị, nhiều quốc gia đã đơn phương tuyên bố lãnh hải có chiều rộng không quá 12 hải lý.
Vung 12 hai ly la gi?-Hinh-2Các vùng biển của quốc gia theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982
Khi Liên Hợp Quốc tổ chức hội nghị về luật biển lần thứ ba, các quốc gia đạt sự nhất trí về chiều rộng 12 hải lý của lãnh hải và việc dành cho đảo quyền lãnh hải. Chiều rộng lãnh hải của đảo được xác định theo đúng các quy định của Công ước áp dụng cho các lãnh thổ đất liền khác. Như vậy, theo Điều 3 của Công ước Luật biển 1982, các quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của các đảo không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở theo Công ước. Ranh giới phía ngoài của lãnh hải là một đường mà mỗi điểm ở trên đường đó cách điểm gần nhất của đường cơ sở một khoảng cách bằng chiều rộng của lãnh hải.
Công ước Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc quy định các bãi đá (đảo đá) không hưởng các quy chế của đảo, chỉ có thể có vùng lãnh hải 12 hải lý. Theo khoản 3 Điều 121 Công ước, những đảo đá không thích hợp để con người ở hoặc duy trì đời sống kinh tế riêng chỉ có vùng lãnh hải, không có quyền mở rộng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Tiêu chuẩn để một bãi đá được coi là đảo đã dẫn đến nhiều cuộc tranh cãi. Mâu thuẫn xuất phát từ các cụm từ "không thích hợp cho con người ở" và "đời sống kinh tế riêng". Trong những năm gần đây, các quốc gia đã đầu tư nhiều tiền cho việc đổ đá, xây nhà và sân bay, tạo ra hoạt động kinh tế riêng và du lịch trên các bãi đá để chúng được coi là đảo.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Lý giải vì sao mặt trăng lại phát sáng

Theo trang Livescience nhận định, Mặt trời chiếu sáng vào ban ngày và Mặt trăng chiếu sáng vào ban đêm là những hiện tượng vô cùng tự nhiên, tuy nhiên ánh sáng từ Mặt trăng chỉ là ảo giác. Trên thực tế, Mặt trăng không có khả năng tự phát sáng mà chỉ là một tấm gương phản chiếu ánh sáng Mặt trời. 
Khi các phi hành gia đặt chân lên Mặt trăng đã khám phá ra rằng bề mặt Mặt trăng có màu xám đen như màu bê tông, cũng chính vì bề mặt ghồ ghề cùng gam màu tối này mà Mặt trăng chỉ có thể phản chiếu khoảng 3% đến 12% ánh sáng Mặt Trời. Lượng ánh sáng Mặt trăng chiếu xuống Trái Đất phụ thuộc vào vị trí của Mặt trăng trong quỹ đão xoay quanh Trái Đất. Một vòng quỹ đạo quanh Trái Đất của Mặt trăng kéo dài 29,5 ngày và trong một vòng này Mặt trăng được Mặt trời chiếu sáng từ các góc khác nhau.
Mặt Trăng phát sáng là do phản chiếu ánh sáng Mặt TrờiMặt trăng phát sáng nhờ phản chiếu ánh sáng Mặt trời. Ảnh minh họa 
Chuyển động của Mặt trăng quanh Trái Đất và chuyển động của Trái Đất quanh Mặt trời đã tạo ra các pha của Mặt trăng như pha Trăng tròn, pha Trăng khuyết… Mặt trời chỉ chiếu sáng được một nửa của Mặt trăng trong quỹ đạo chuyển động của nó quanh Trái Đất, nửa còn lại không được chiếu sáng sẽ chìm trong bóng tối.
Mặt trăng sáng nhất khi ở vào vị trí xung đối với Mặt trời hay nói theo cách khác là khi kinh độ hoàng đạo của Mặt trời và Mặt trăng chênh nhau giá trí 180 độ. Lúc này, toàn bộ nửa Mặt trăng được Mặt trời chiếu sáng và có thể nhìn thấy toàn bộ nửa này từ Trái Đất. Hiện tượng này được gọi là Trăng tròn (còn được gọi là Trăng rằm).
Pha Trăng tròn hay còn gọi là Trăng rằm Pha Trăng tròn hay còn gọi là Trăng rằm. Ảnh minh họa 
Sẽ không thể quan sát được Mặt trăng ở pha Trăng non, đó là khi Mặt trăng ở vị trí giữa Mặt trời và Trái Đất nên phần được chiếu sáng của Mặt trăng không quay về phía Trái Đất. Trong khoảng thời gian vài ngày trước và sau khi pha Trăng non diễn ra, chỉ nhìn thấy một phần nhỏ của Mặt trăng sáng rõ nhờ phản chiếu ánh sáng Mặt trời (Trăng lưỡi liềm), phần Mặt trăng còn lại sẽ có ánh sáng mờ, đây là hiện tượng "Trái Đất chiếu sáng", là khi phần Mặt trăng không nhận được ánh sáng trực tiếp từ Mặt trời nhưng nhận được ánh sáng Mặt trời do Trái Đất phản chiếu ra.
Phần còn lại của Mặt Trăng có ánh sáng mờ nhờ hiện tượng Phần còn lại của Mặt Trăng có ánh sáng mờ nhờ hiện tượng "Trái Đất chiếu sáng". Ảnh minh họa 
Ngoài Mặt trăng, Sao Kim là thiên thể sáng nhất trên bầu trời, do hành tinh này có khả năng phản chiếu ánh sáng Mặt Trời lên đến 65%.



Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

12 sự thật đáng kinh ngạc về vàng

Hầu như mọi hòn đá, cục đất trên thế giới đều chứa vàng. Tổng lượng vàng đã được khai thác trên trái đất khoảng 166.500 tấn.


Những miếng vàng cỡ nhỏ: 1 gram, 5 gram, 10 gram, 20 gram, và 1 troy ounce vàng (37,5 gram, hay 1 cây vàng). Một gram vàng (0,035 ounce) tương đương với khối lượng của một chiếc kẹp giấy nhỏ. Hầu như mọi hòn đá, cục đất nào trên thế giới đều chứa vàng. Tuy nhiên trong đại đa số trường hợp, lượng vàng quá ít không thể nhìn thấy bằng mắt thường và cũng không đủ để sinh lời nếu khai thác. Tại những nơi nhiều vàng, các công ty vàng đã lập những mỏ vàng để khai thác và luyện chúng thành vàng miếng.
Những miếng vàng cỡ nhỏ: 1 gram, 5 gram, 10 gram, 20 gram, và 1 troy ounce vàng (37,5 gram, hay 1 cây vàng). Một gram vàng (0,035 ounce) tương đương khối lượng của một chiếc kẹp giấy nhỏ. 
Đối với các công ty khai thác vàng, mỗi tấn đất, đá trên thế giới đều chứa trên 1 gram vàng. Trên thực tế, trong một báo cáo năm 2013 của Visual Capitalist thống kê từ các mỏ vàng trên thế giới, cho thấy hàm lượng trung bình vàng trong 1 tấn đất là 1,01 gram.
Những miếng vàng cỡ lớn hơn: 50 gram, 100 gram, 250 gram, 500 gram, và 1 kg vàng. Đối với các công ty khai thác vàng, mỗi tấn đất, đá trên thế giới đều chứa trên 1gram vàng. Trên thực tế, trong một báo cáo năm 2013 của Visual Capitalist thống kê từ các mỏ vàng trên thế giới cho thấy hàm lượng trung bình vàng trong 1 tấn đất là 1,01 gram.
Những miếng vàng cỡ lớn hơn: 50 gram, 100 gram, 250 gram, 500 gram, và 1 kg vàng. 
Hầu như mọi hòn đá, cục đất nào trên thế giới đều chứa vàng. Tuy nhiên trong đại đa số trường hợp, lượng vàng quá ít không thể nhìn thấy bằng mắt thường, và cũng không đủ để sinh lời nếu khai thác. Tại những nơi nhiều vàng, các công ty đã lập những mỏ vàng để khai thác và luyện chúng thành vàng miếng.
Một thanh vàng 400 ounce, với tỷ giá quy đổi 2.000 USD/ounce sẽ có giá khoảng 800.000 USD nếu đổi ra tiền mặt. Thanh vàng khá nặng, tương đường 3 bình sữa đầy.
Một thanh vàng 400 ounce, với tỷ giá quy đổi 2.000 USD/ounce sẽ có giá khoảng 800.000 USD nếu đổi ra tiền mặt. Thanh vàng khá nặng, tương đường 3 bình sữa đầy.
Một tấn vàng xếp cạnh nhau sẽ trông như thế này. Với 2.000/ounce, một tấn vàng sẽ có giá trị tương đương 64,3 triệu USD.
Một tấn vàng xếp cạnh nhau sẽ trông như thế này. Với 2.000/ounce, một tấn vàng sẽ có giá trị tương đương 64,3 triệu USD.
Với trọng lượng rất nặng, chừng này vàng có thể phá vỡ hệ thống treo của chiếc xe tải cỡ trung bình. Và số vàng này có thể mua được khoảng 2.660 xe tải mới giá khoảng 40.000 USD mỗi chiếc.
Với trọng lượng rất nặng, chừng này vàng có thể phá vỡ hệ thống treo của chiếc xe tải cỡ trung bình. Và số vàng này có thể mua được khoảng 2.660 xe tải mới giá khoảng 40.000 USD mỗi chiếc.
10 tấn vàng trông sẽ như thế này so với 100 tấn vàng.
10 tấn vàng trông sẽ như thế này so với 100 tấn vàng.
Theo quy định của luật pháp Mỹ, một chiếc xe bán tải chỉ được chở tối đa số vàng như trong hình. Cụ thể, lượng vàng tối đa một chiếc xe bán tải được chở là 25 tấn. Trong hình là 24,88 tấn vàng, tương đương 1,6 tỷ USD.
Theo quy định của luật pháp Mỹ, một chiếc xe bán tải chỉ được chở tối đa số vàng như trong hình. Cụ thể, lượng vàng tối đa một chiếc xe bán tải được chở là 25 tấn. Trong hình là 24,88 tấn vàng, tương đương 1,6 tỷ USD.
 Chương trình Northrop Grumman B2 Spirit Bomber (máy bay ném bom tàng hình) của Mỹ tiêu tốn khoảng 44,75 tỷ USD để tạo ra tổng cộng 21 chiếc, như vậy, mỗi chiếc sẽ có giá tương đương hơn 2,13 tỷ USD. Và trong hình là số vàng tương đương để làm ra một chiếc B2 Spirit.
Chương trình Northrop Grumman B2 Spirit Bomber (máy bay ném bom tàng hình) của Mỹ tiêu tốn khoảng 44,75 tỷ USD để tạo ra tổng cộng 21 chiếc. Như vậy, mỗi chiếc sẽ có giá tương đương hơn 2,13 tỷ USD. Và trong hình là số vàng tương đương để làm ra một chiếc B2 Spirit.
Đây là toàn bộ lượng vàng dự trữ của Chính phủ Mỹ, khoảng 8.133,5 tấn vàng.
Đây là toàn bộ lượng vàng dự trữ của Chính phủ Mỹ, khoảng 8.133,5 tấn.
Và đây là dự trữ vàng của một số chính phủ và tổ chức tiền tệ trên toàn thế giới vào khoảng năm 2012. Con số này có một chút lỗi thời, vì lượng vàng dự trữ của Trung Quốc và Nga đều đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây.
Và đây là dự trữ vàng của một số chính phủ và tổ chức tiền tệ trên toàn thế giới vào khoảng năm 2012. Con số này có một chút lỗi thời. Vì lượng vàng dự trữ của Trung Quốc và Nga đều đã tăng đáng kể trong thời gian gần đây.
Đây là tất cả lượng vàng đã khai thác trong lịch sử xếp chồng lên nhau bằng các thanh vàng 400 ounce. Tổng cộng 166.500 tấn vàng ở đây được chia thành bốn cấp độ: cấp dưới cùng là đồ trang sức (chiếm 50,5% của tổng số vàng), cấp thứ 2 là đầu tư tư nhân (18,7%), cấp thứ ba là dự trữ của các chính phủ trên thế giới (17,4%), và mức trên cùng là vàng sử dụng trong công nghiệp (13,4%).
Đây là tất cả lượng vàng đã khai thác trong lịch sử, xếp chồng lên nhau bằng các thanh vàng 400 ounce. Tổng cộng 166.500 tấn vàng ở đây được chia thành bốn cấp độ: cấp dưới cùng là đồ trang sức (chiếm 50,5% của tổng số vàng), cấp thứ 2 là đầu tư tư nhân (18,7%), cấp thứ ba là dự trữ của các chính phủ trên thế giới (17,4%). Mức trên cùng là vàng sử dụng trong công nghiệp (13,4%).
Tổng cộng 166.500 tấn vàng đã được khai thác trong lịch sử thế giới, nếu đúc chúng thành một khối lập phương sẽ có cạnh cao 20,5m. Nếu nấu chảy số vàng trên, nó sẽ lấp đầy một bể bơi tiêu chuẩn Olympic.
Tổng cộng 166.500 tấn vàng đã được khai thác trong lịch sử thế giới, nếu đúc chúng thành một khối lập phương sẽ có cạnh cao 20,5 m. Nếu nấu chảy số vàng trên, nó sẽ lấp đầy một bể bơi tiêu chuẩn Olympic.

Những sinh vật đáng sợ trong truyền thuyết

Trên thế giới, truyền thuyết về các nền văn hóa cổ đại thường gắn với sự xuất hiện của những con quái vật làm các vị thần điêu đứng và thế giới bị tàn phá ghê gớm.
Sói khổng lồ Fenrir
Trong thần thoại Bắc Âu, Fenrir là một con chó sói, con của thần Loki (gốc là người khổng lồ nhưng lại có 1 thân hình như người bình thường - em trai của thần Thor, thần sấm sét có sức mạnh phi thường) và người đàn bà khổng lồ Angrbođa.
Fenrir thường được tả lại rằng: khi gầm gừ, mũi của nó chạm đến mây xanh còn cằm thì chạm xuống đất, nó có đôi bàn chân to với những móng vuốt sắc nhọn, cái đuôi chắc khỏe....
Fenrir chỉ bị khống chế bởi một dây xích đặc biệt
Fenrir chỉ bị khống chế bởi một dây xích đặc biệt
Theo thần thoại, để có thể khống chế được Fenrir, phải cần đến chiếc xích tuy mỏng nhưng lại làm từ những “nguyên liệu” độc nhất vô nhị: tiếng chân mèo đi, râu đàn bà, rễ đá, hơi thở của cá, thần kinh của gấu, nước miếng của chim.
Sức mạnh của con sói này vô cùng đáng sợ và thần chiến tranh đã phải hy sinh cánh tay phải của mình sau một trận giao tranh với Fenrir.
Loài sói khổng lồ hung dữ chịu trách nhiệm về sự kết thúc của thế giới trong thần thoại Bắc Âu
Loài sói khổng lồ hung dữ chịu trách nhiệm về sự kết thúc của thế giới trong thần thoại Bắc Âu
Thần Odin vĩ đại - người đứng đầu các vị thần - đã bị con sói Fennir nuốt chửng nhưng nó cũng bị chính tay một người con của Odin giết chết.
Quái vật mình người đuôi rắn - Typhon
Typhon là một con quái vật trong thần thoại Hy Lạp. Typhon được cho là một loại sinh vật to lớn nhất và hình dạng kỳ lạ nhất từng được biết đến từ trước đến nay: mình người với hàng trăm đuôi rắn khác nhau.
Hình ảnh Zeus ném tia chớp vào Typhon được chạm khắc trên chiếc bình cổ
Hình ảnh Zeus ném tia chớp vào Typhon được chạm khắc trên chiếc bình cổ
Typhon âm mưu lật đổ ngôi Zeus để trở thành Vua của các vị thần và loài người.
Sau những cuộc chiến quy mô tầm cỡ vũ trụ, Zeus đã dùng sấm sét đè bẹp Typhon dưới lòng núi lửa Etna, từ đó nó bị giam cầm mãi mãi nhưng vẫn tiếp tục khạc lửa mong muốn được trả thù.
Typhon là con quái vật đáng sợ nhất trong những quái vật thù địch vì nó có cả sức mạnh và trí tuệ.
Chim Sấm (Thunderbirds)
Thunderbirds đã là cái tên gây khiếp sợ với những cư dân bản địa Bắc Mỹ, từ Tây Bắc Thái Bình Dương xuống phía Tây Nam.
Loài chim trong thần thoại có thể tạo ra sấm chớp
Loài chim trong thần thoại có thể tạo ra sấm chớp
Mặc dù có những khác biệt về đặc điểm giữa từng con trong loài, nhưng các bộ lạc Vùng bắc Mỹ thuở xưa tin rằng:
"Điểm chung của loài Chim Sấm này đều gây ra sấm sét đến vùng nào chúng bay qua, ánh mắt bắn ra tia chớp của chúng có thể triệu tập các đám mây u ám và tạo ra những cơn bão lốc khủng khiếp".
Tượng gỗ khắc hình đầu chim bày tỏ lòng thành của cư dân cổ với Thunderbirds
Tượng gỗ khắc hình đầu chim bày tỏ lòng thành của cư dân cổ với Thunderbirds
Người dân đều không muốn gây rối với Thunderbirds vì họ tin rằng nếu làm điều gì sai trái với chúng thì mưa bão và lụt lội sẽ nhấn chìm toàn thế giới.
Bọ chân nhện - Jinshin-Mushi
Đây là những con bọ cánh cứng trong truyền thuyết Nhật Bản, giải thích của người dân về những trận động đất khủng khiếp từng xảy ra.
Truyền thuyết nói rằng, cơ quan nào đó của chúng đã tạo ra sóng âm thanh cộng hưởng ở một tần số hoàn hảo và có thể làm cho nhiều khoáng sản trong lòng đất bị phá hủy trong vài tích tắc.
Chúng không lớn hơn một bàn tay con người với mười chân nhện, đầu rồng và thân mình đầy vảy
Chúng không lớn hơn một bàn tay con người với mười chân nhện, đầu rồng và thân mình đầy vảy
Với một đất nước nhiều biến động địa chất như Nhật Bản, những thảm họa do động đất gây ra là nỗi hoảng sợ của toàn cư dân.
Huyền thoại về loài sinh vật này bắt đầu phổ biến xung quanh trận động đất Edo (nay là Tokyo) vào năm 1855, khi hàng ngàn người đã thiệt mạng và hàng chục ngàn tòa nhà cũng như công trình bị phá hủy.
Họ cho rằng loài bọ gây nên tất cả các trận động đất có sức hủy diệt trên quy mô toàn châu lục.
Thủy quái (Leviathan)
Trong kinh thánh, Leviathan là một con rắn nước, rất lạ là những cái vẩy của nó được xếp khít đến nỗi không khí cũng không lọt qua được, hơn nữa nó được miêu tả là loài rắn chắc hơn sắt thép, vũ khí bình thường như gươm giáo không thể xuyên thủng.
Leviathan cũng có trong chuyện của người Do Thái cổ, nó được miêu tả như là một loài cá voi khổng lồ mà toàn bộ Trái Đất không đủ để 2 con cùng sinh sống.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Những điều chưa biết về loài kiến

1. Kiến làm lành vết thương
1-2726-1384166211.jpg
Một số bộ lạc trên thế giới, điển hình như người Masai ở phía đông châu Phi, kiến có thể được sử dụng làm công cụ chữa lành vết thương. Khi các chiến binh Masai bị thương, họ chỉ cần tìm nhặt một vài con kiến thuộc đàn kiến quân đội có kích thước lớn và để chúng cắn ở hai bên vết thương, sau đó bỏ phần thân kiến mà chỉ giữ lại phần đầu kiến trên vết thương.
2. Kiến xuất hiện từ hơn 100 triệu năm trước
2-7348-1384166211.jpg
Loài kiến tồn tại từ kỷ Creta, cách đây khoảng 110-130 triệu năm trước. Qua hàng triệu năm tiến hóa, loài kiến đã hình thành nên một tổ chức cao.
3. Dịch vụ an táng trong tổ kiến
3-4097-1384166211.jpg
Khi một con trong đàn chết, các con kiến khác trong đàn sẽ mang xác con kiến ra khỏi tổ nhằm giữ vệ sinh, tránh nhiễm trùng hoặc dịch bệnh lây lan trong tổ. Mặc dù bất kỳ con kiến thợ nào cũng có thể làm việc này, nhưng trong đàn kiến luôn có một con kiến chuyên phụ trách công việc này.
4. Khả năng tự nhân bản vô tính
4-6809-1384166211.jpg
Loài kiến ở vùng Amazon có khả năng sinh sản vô tính, tạo ra các bản sao giống hệt với những con kiến mẹ. Theo các nhà nghiên cứu, đặc điểm sinh sản vô tính của loài kiến xuất phát từ một loài nấm, nguồn thức ăn truyền thống của kiến từ hơn 80 triệu năm nay.
5. Nền giáo dục trong thế giới kiến
5-5938-1384166211.jpg
Kiến là loài côn trùng có hệ thống tổ chức rất tiến bộ. Một đàn kiến bao gồm nhiều kiến thợ phụ trách các công việc khác nhau như tìm kiếm thức ăn, canh gác, chăm sóc trứng và các con kiến nhỏ.
Tuy nhiên, không phải ngay từ khi sinh ra kiến thợ đã có đầy đủ kỹ năng cần thiết được lập trình sẵn trong ADN để thực hiện các nhiệm vụ này, mà chúng cần phải trải qua quá trình học hỏi để làm công việc nhất định.
Những con kiến "thầy giáo" trong tổ sẽ dạy cho các con kiến trẻ hơn làm công việc cần thiết, nếu "học sinh"học chậm và "thi trượt"trong kỳ kiểm tra, chúng sẽ được chuyển đến một công việc khác không đòi hỏi kỹ năng chuyên môn.



Vì sao cây lá kim không rụng lá?


Ảnh minh họa
TS Nguyễn Thị Hoài, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội: Những cây không rụng lá ở vùng ôn đới là những cây lá kim. Tại các nước ôn đới khi mùa đông đến khí hậu trở nên lạnh giá và khô hanh, thời tiết này mưa rất ít nên lượng nước ở trong đất ít đi. Vì thế nên các loài cây đều rụng lá. Điều này là do bên ngoài của lá có rất nhiều lỗ khí, những lỗ này thoát ra rất nhiều nước.
Sau khi lá rụng sẽ có thể giảm bớt được sự tiêu hao của nước. Trong khi đó, cây tùng và cây bách không rụng lá vì lá của chúng rất nhỏ bé, giống như cái kim, nước tiêu hao là rất ít, nên không bị rụng lá.