Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

Vì sao chim không có răng?

Theo các nhà khoa học, tổ tiên của tất cả loài chim ngày nay đã từng có răng. Nhưng trong quá trình tiến hóa, răng đã biến mất để phù hợp hơn với hoạt động của chúng.
Ảnh minh họa
Chim là loài động vật có xương sống, cũng giống như một số loài động vật có vú, hay cá voi tấm sừng và rùa đều không có răng. Tuy nhiên, lý do gây ra hiện tượng này ở tất cả trường hợp là không giống nhau. Một nghiên cứu trước đây đã chỉ ra tổ tiên của chim có răng trắng như ngọc trai cách đây từ 116 triệu năm.

Mặc dù có những mảnh hóa thạch của các loài chim cổ đại, các nhà khoa học vẫn nghiên cứu gen của những loài hiện đại để xác minh răng của chim thay đổi theo thời gian như thế nào.

Giáo sư sinh học Mark Springer, đại học California công bố rằng các mẫu DNA là một công cụ hiệu quả trong việc mở khóa cánh cửa bí mật về lịch sử tiến hóa răng.

Vào năm 1861, hóa thạch chim thủy tổ ở Đức cho thấy nguồn gốc của chim xuất phát từ một loài bò sát có răng. Chim đã phát triển từ khủng long chân thú, khủng long bạo chúa. Chúng đều là loài động vật có một mồm toàn răng sắc nhọn.
Hóa thạch của chim thủy tổ ở Đức
Những loài chim hiện đại đều không có răng, có mỏ cong và đường tiêu hóa khỏe mạnh giúp chúng nghiền và tiêu hóa thức ăn.

Nhưng chưa một ai biết đích xác điều gì đã xảy ra trong quá trình tiến hóa răng của loài động vật này. Giáo sư Springer nói: “Lịch sử về việc răng của tổ tiên chim biến mất vẫn là điều bí ẩn trong suốt hơn 150 năm qua”.
Để khám phá ra điều này các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu gen ở động vật có xương sống. Họ phát hiện ra rằng răng hình thành từ 6 gen quan trọng quy định men răng và ngà răng.

Họ đã tìm kiếm đột biến dẫn đến việc ngừng hoạt động của 6 gen này trong tất cả 48 loài chim khác nhau. Kết quả là sự đột biến của ngà và men răng được tìm thấy ở một số loài chứng tỏ tổ tiên của chim đã mất khả năng để hình thành răng.

Giáo sư Springer chia sẻ: “Sự hiện diện của một số đột biến men răng dẫn đến việc ngừng hoạt động được thấy ở tất cả 48 loài, xảy ra cách đây khoảng 116 triệu năm”.

Nghiên cứu cũng tìm ra đột biến gen tương tự trong ngà và men răng ở một số loài động vật có xương sống khác. Chúng cũng không có răng và men như rùa, tê tê, lợn đất.

Như vậy, có thể nói tổ tiên chim đã từng có răng nhưng sau đó đã biến mất, có thể cho đó là sự tiến hóa để phù hợp với chế độ ăn đặc biệt. Ở chim hiện nay, mề sau đã thay thế vai trò của bộ răng.
Nội dung được thực hiện dựa trên tham khảo nguồn tin từ Live Science, một tờ tin tức khoa học trực tuyến ra đời năm 2004. Live Science chuyên tin tức về đột phá khoa học, các dự án nghiên cứu và sự kiện kỳ lạ từ khắp nơi trên thế giới.



Tại sao điệu cười của mỗi người khác nhau?

Cười là phản ứng tự nhiên với sự hài hước, cười là một công cụ xã hội, sử dụng để con người tương tác với nhau và nó cũng mang lại nhiều lợi ích như trẻ lâu, cải thiện bộ nhớ.
Tiếng cười có thể lây nhiễm, nhưng dường mỗi người đều có điệu cười đặc trưng mang bản sắc riêng.
Ảnh minh họa.
Nhưng điều gì khiến tiếng cười của chúng ta có âm thanh khác nhau? Theo giải phẫu học, tiếng cười là một loạt nỗ lực của hệ thống thần kinh vòng viền, thanh quản, phổi, cơ hô hấp và nhiều hơn nữa. Chính tâm lý và hành vi khiến chúng ta cười.
Judi James, chuyên gia hành vi và ngôn ngữ cơ thể cho biết: “Tiếng cười của chúng ta khác nhau và sử dụng trong các mục đích và hoàn cảnh khác nhau. Hầu hết là để tạo mối quan hệ, tỏ ra lịch sự trong giao tiếp và nhiều lúc tiếng cười đóng vai trò là cái mặt nạ”.
James cho một ví dụ nếu bạn đang ở một mình và xem bộ phim hài yêu thích, có thể bạn sẽ bật cười rất to, thoải mái. Ngược lại, khi xem với bạn bè, bạn cũng cười vui vẻ với họ nhưng điệu cười lúc này đã khác, nó mang ý nghĩa giao tiếp nhiều hơn.

Chỉ khi tiếng cười xuất hiện trong điều kiện tự nhiên nhất, chúng ta mới nhận biết được âm thanh của chúng là như thế nào.
Jame phân tích tiếng cười chân thật thường khiến con người bối rối, chúng có âm thanh nghe khá thô vì trong trạng thái thở mạnh và miệng mở quá rộng.
Điều này dẫn tới việc chúng ta học cách chỉnh sửa tiếng cười. Chúng ta chú ý hơn đến răng nhiều hơn, ngại vì sợ bị chê xấu hay cười vô duyên. Tập luyện hàng ngày, tự ý thức về ngoại hình mỗi khi cười, dè dặt hơn mỗi khi cười hay nói chúng là ngôn ngữ cơ thể. Do đó, có thể âm thanh trở nên dễ nghe hơn, chuyên nghiệp hơn.
Nếu nhìn vào ngôn ngữ cơ thể khi cười, bạn có phát hiện ra một vài khía cạnh bên trong như sự ức chế xã hội, hành động thoải mái hay gây hấn.
Cười có tiếng thở khò khè chứng tỏ họ đang phải cố gắng để tự kiểm soát bản thân. Khi cảm thấy không hạnh phúc, tiếng cười phát ra có lẫn sự lo lắng, nhút nhát.
Chúng ta thường nghĩ rằng bản thân chỉ có một tiếng cười. Tuy nhiên, James giải thích mỗi người có nhiều điệu cười và tiếng cũng khác nhau. Khi tiếng cười của ai đó thay đổi, anh ta hoặc cô ta đang đóng vai một người khác.
Jame phát biểu: “Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh sống thay đổi. Ví dụ, nếu cuộc sống của trở nên khó khăn hơn, con người có xu hướng cố gắng che giấu cảm xúc nội tâm bên tron, tạo ra nụ cười giả dối, có âm thanh hoàn toàn khác”.
Tuy nhiên, phải hiểu rằng mặc dù âm thanh phát ra hoàn toàn khác nhau, nhưng về cơ bản tiếng cười có chung một cách phát âm
Giáo sư Robert Provine, nghiên cứu về tâm lý học và thần kinh học, Đại học Maryland nói: “ Mặc dù tiếng cười có thể độc đáo, đa dạng như ngôn ngữ, nó không bất biến”.
Ảnh minh họa
Ông cho biết thêm: “Hầu hết mọi người cười với âm thanh ngắn, điều hòa luồng hơi đi ra. Mỗi tiếng “ha” phát ra chỉ mất khoảng một phần mười lăm giây, lặp đi lặp lại một phần năm giây mỗi lần. Khó có thể cười theo cách nào khác. Hãy thử xem”.
Những phát âm bản năng có thể mang tính di truyền. Trong cuốn sách của Robert Provine có nêu một bằng chứng cụ thể, cặp song sinh giống hệt nhau, bị xa cách vì hoàn cảnh gia đình, họ được đoàn tụ 40 năm sau đó, và thật ngạc nhiên họ cười với phong cách cũng giống hệt nhau.
Tuy nhiên, ông nói rằng cần phải nghiên cứu thêm để thật sự hiểu được những đặc tính di truyền của tiếng cười.
Nhóm tuổi khác nhau, tiếng cười cũng biến đổi. Hầu hết trẻ em cười dưới hình thức tự phát vì chúng chưa biết tự kiềm chế. Người lớn cười thường che miệng để che giấu khuôn mặt của họ.
James nói: “Một đứa trẻ sẽ cười khi bị cù nách hoặc đùa nghịch trò chúng thích như tung lên cao, thể hiện khuôn mặt buồn cười. Người lớn cười từ khoái cảm chính bản thân mình hoặc cười vì niềm vui nỗi buồn của người khác”.

Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, con người ở bất kể lứa tuổi nào, càng cười càng đầy niềm vui sướng càng hạnh phúc.
Nội dung được thực hiện qua tham khảo nguồn tin Mashable. Đây là website tin tức, công nghệ và mạng xã hội được thành lập năm 2005.



Loài động vật nào nhanh nhất hành tinh?

Loài vật nào nhanh nhất hành tinh? Nếu trả lời là báo Gêpa, có thể chưa chính xác. Kỷ lục sinh vật nhanh nhất còn có thể là chim ưng, loài tôm hoặc thậm chí là sứa...
 Kỷ lục sinh vật nhanh nhất còn có thể là chim ưng, loài tôm hoặc thậm chí là sứa nếu tiếp cận khái niệm "chuyển động" dưới góc độ rộng hơn. Thật sự, việc xác định đâu là loài vật có chuyển động nhanh nhất hành tinh không phải là chuyện đơn giản. Chúng ta hãy cùng đi sâu vào câu hỏi phức tạp này nhé.

Trên thực tế, ý tưởng báo gêpa là loài sinh vật nhanh nhất hành tinh đã được hình thành từ nhiều năm. Hầu hết mọi người, từ nhỏ đến lớn đều chấp nhận câu trả lời này. Tuy nhiên, nếu xét dưới góc độ khách quan hơn thì việc phân định ngôi đầu bảng về tốc độ nhanh nhất trong thế giới động vật không đơn giản như xác định loài nặng nhất (cá voi xanh) hoặc cao nhất (hươu cao cổ).

Sheila Patek, nhà sinh vật học tại Đại học Duke, Hoa Kỳ cho biết: "Khi chúng ta nói về tốc độ của một chuyển động, cần phải phân định rõ ràng nhiều yếu tố như thời gian thực hiện toàn bộ chuyển động, quá trình tăng tốc, tốc độ tính bằng chiều dài cơ thể trên giây… Đồng thời, không chỉ xét riêng chuyển động của toàn thân mà còn phải nghiên cứu rộng hơn, xác định chuyển động của các bộ phận trên cơ thể và cả khả năng tạo ra tốc độ,…"

Chuyển động của toàn bộ cơ thể?
 
Liệu báo gêpa có phải là loài động vật chạy nhanh nhất?​


Điển hình như, báo gêpa có thể là "động vật nhanh nhất" nếu bạn giới hạn phạm vi lại và chỉ cho nó chạy từ điểm A đến điểm B. Trong trường hợp này, rõ ràng nó có thể chạy với tốc độ lên tới 29 m/s. Nhưng hãy tìm hiểu sâu hơn bối cảnh diễn ra hành động này. Con báo chạy vì một lý do: Săn mồi. Hầu hết con mồi đều không ngốc tới mức đánh cược mạng sống của chúng vào việc chạy đua trên đường thẳng với con báo. Thay vào đó, chúng chọn cách chạy zig zac. Điều đó có nghĩa là mặc dù báo có khả năng đạt tốc độ 29 m/s trong điều kiện thử nghiệm lý tưởng, nhưng trong thế giới giới tự nhiên, trung bình nó chỉ đạt được tốc độ 15 m/s và duy trì được tốc độ này từ 1 đến 2 giây.


Loài ve Paratarsotomus macropalpis, chỉ dài khoảng 0,7 mm, nhưng lại có thể chạy được quãng đường dài gấp 322 lần chiều dài cơ thể mỗi giây, khiến nó trở thành loài vật chạy nhanh nhất hành tinh​


Patek cho biết: "Báo có gia tốc tương đối thấp và do đó, nó mất khá nhiều thời gian để đạt được tốc độ ấn tượng như chúng ta thường thấy." Nếu xét đơn vị đo tốc độ là "chiều dài cơ thể/giây" thì có thể ngôi vương lại nhường cho loài ve Paratarsotomus macropalpis. Loài ve này có thể chạy được quãng đường gấp 322 lần chiều dài cơ thể mỗi giây. Tốc độ này qua mặt cả bọ hổ Úc với tốc độ 171 lần chiều dài cơ thể mỗi giây.


Hình ảnh một con cá buồm Đại Tây Dương, được mệnh danh là loài cá bơi nhanh nhất đại dương​

Một loài động vật khác cũng thường xuất hiện trong các cuộc nói chuyện về "nhanh nhất" là cá buồm. Đây là một loài cá lớn, có cùng họ với cá Marlin và cá kiếm. Nó được biết đến như loại cá nhanh nhất đại dương, có thể đạt tốc độ khoảng 30 m/s khi lướt trên những con sóng. Bên cạnh đó, phần lớn những ông hoàng tốc độ trong thế giới động vật này thường sở hữu điểm đặc biệt để thích ứng với tốc độ cao. Tiến hóa đã cho loài cá buồm có những mô đặc biệt, giúp tăng cường công suất hoạt động của các dây thần kinh nhãn cầu khi đang di chuyển ở tốc độ cao.


Chim cắt, sinh vật được cho là nhanh nhất bầu trời với khả năng nương theo trọng lực để tạo gia tốc, đạt tốc độ lao xuống tới 58 m/s​

Trên đây chúng ta đã có sinh vật nhanh nhất trên cạn và dưới biển, thì ngôi vị này trên không trung sẽ thuộc về chim cắt (falcon). Khi săn mồi, chim cắt có thể tìm đến vị trí rất cao, sau đó lợi dụng trọng lực để lao xuống con mồi bên dưới. Trong một nghiên cứu, một con Cắt Bắc Cực (gryfalcon) tên là Kumpan có thể đạt tốc độ 52 đến 58 m/s sao khi lao từ độ cao 500 mét. Một thử nghiệm khác được thực hiện bởi National Geographic cho thấy chim cắt còn có thể đạt được tốc độ 82 m/s khi thả nó ra từ độ cao 4572 mét.

Một hướng tiếp cận khác: Chuyển động của 1 phần cơ thể

Đến đây, có thể tốc độ mà chim cắt đạt được có thể làm họ nhà báo phải hổ thẹn. Vậy chim cắt có xứng đáng nhận danh hiệu động vật nhanh nhất hành tinh? Câu trả lời còn phụ thuộc vào việc bạn định nghĩa như thế nào về tốc độ.

Thí dụ, bạn có thể nhìn vào tốc độ lao xuống đáng kinh ngạc của chim cắt nhưng khoan đã, nó đã mất bao nhiêu giây để đạt được độ cao cần thiết? Điều đó có nghĩa là chim cắt có khả năng đạt được tốc độ cao nhưng phải nhờ vào sự giúp đỡ của trọng lực để đạt được gia tốc cần thiết.


Loài tôm tít với khả năng búng càng cực nhanh​

Và nếu xét về khả năng tăng tốc, Patek đã có sẵn một số ứng cử viên trong thế giới động vật. Điển hình như tôm tít (mantis shrimp) với 2 chiếc càng như có lò xo, có thể búng cực mạnh về phía trước như một chiếc cung. Một khi búng ra, chiếc càng có thể bật ra và thu vào chỉ trong vòng chưa tới 3 mili giây.

Loài sứa còn có thể tạo ra gia tốc cao hơn khi nó tấn công kẻ thù. Lúc đó, sứa có thể phóng ra hàng tỷ sợi gai độc có kích thước cực nhỏ với vận tốc tương tương một viên đạn bay ra khỏi nòng súng. Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Current Biology hồi năm 2008, mỗi gai độc được gọi là nematocysts, có thể được phóng ra trong vòng chưa tới 700 nano giây và tạo ra gia tốc lớn hơn gấp 5 lần so với gia tốc trọng trường.


Kiến bẫy hàm với đặc trưng là chiếc hàm có thể mở ra 180 độ và khép lại với tốc độ chưa tới 64 m/s​

Rõ ràng, khả năng tăng tốc của các loài vật trên đây là khá ấn tượng. Tuy nhiên, nó vẫn chưa phải là nhất. Nếu xét tới khả năng dùng các bộ phận của cơ thể với tốc độ nhanh thì phải kể tới kiến bẫy hàm (ondotomachus) và mối Panamanian. Loài kiến bẫy hàm đặc trưng với phần hàm dưới có khả năng mở 180 độ giống như một cái bẫy. Bộ hàm này có khả năng đóng mở cực nhanh phụ thuộc vào các sợi lông mỏng trên bề mặt. Theo nghiên cứu, tốc độ đóng mở hàm của nó có thể đạt 64 m/s để giúp nó bật cả thân mình lên nhằm thoát khỏi nguy hiểm.

Một con kiến bẫy hàm tự búng người lên không để thoát nguy hiểm
​

Tuy nhiên, kiến bẫy hàm chỉ đáng xếp thứ 2 khi so với loài mối Panamanian. Dù không có bộ hàm oai vệ, nhưng chính nhờ điều kiện sống trong những hang đào chật hẹp, nên loài mối Panamanian lại sở hữu những nhát cắn chớp nhoáng, nhằm tạo ưu thế trong các cuộc cận chiến bảo vệ tổ. Đầu tiên, nó sẽ nghiến chặt quai hàm tới mức làm biến dạng nó, khi đạt giới hạn, quai hàm của nó sẽ trượt ra và phát xuất một lực cực mạnh búng vào kẻ thù. Phần lớn kẻ xâm lược sẽ chết lập tức sau cú cắn độc đáo này.

Video quay chậm cảnh một con kiến bẫy hàm đang tấn công đối thủ​


Jeremy Niven, nhà nghiên cứu tại Đại học Sussex đã đo vận tốc của nhát cắn này là vào khoảng 67 m/s. Ông cho biết: "Chưa từng có nghiên cứu nào trước đây tìm thấy loài nào có được nhát cắn tốc độ như loài mối này."

 
Cận cảnh nhát cắn 67 m/s của loài mối Panamanian​


Cuối cùng, câu trả lời cho câu hỏi loài vật nhanh nhất còn phụ thuộc vào cách bạn tiếp cận tới định nghĩa tốc độ và xác định đơn vị đo là gì. Đó là có thể là tốc độ tối đa, khả năng tăng tốc, quá trình tăng tốc,… đồng thời phải xét tới phạm vi chuyển động, chuyển động là toàn thân hay một phần cơ thể. Rõ ràng nếu so với nhát cắn của loài mối Panamanian thì loài báo chỉ là sinh vật chậm chạp. Nhưng như đã nói ở trên, dường như các kết luận so sánh tuyệt đối là quá khập khiễn. Quan trọng hơn là chúng ta giới hạn phạm vi đo lường lại và sẽ tìm được sinh vật đạt tốc độ nhanh nhất.





Vì sao chim thường hay đâm vào máy bay?

Đã từ khá lâu bí ẩn về việc tại sao các loài chim có đủ độ nhanh nhẹn để tránh né mọi thứ lại bị đâm vào những chiếc máy bay hay xe tải không còn được nhắc đến do chưa có lời giải.
Tuy nhiên, các nghiên cứu mới nhất từ phía các nhà khoa học đã phần nào giải thích được về hiện tượng này.
Theo các nhà khoa học Mỹ, họ đã tìm được nguyên nhân khiến nhiều loài chim thường hay đâm hoặc bị đâm vào máy bay, xe tải. Lý do chính được đưa ra đó chính là do loài chim không tính đến tốc độ của chướng ngại vật để tránh mà chỉ quan tâm tới khoảng cách giữa chúng và chướng ngại vật tại một thời điểm nhất định.
Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn tới việc nhiều loài chim đâm hoặc bị đâm do máy bay hoặc xe tải bởi những phương tiện này thường có vận tốc khá nhanh, thường trên 120 km/h. 

Hiện trạng này đã và đang gây nên cái chết cho hàng ngàn loài chim mỗi năm cùng với đó là tạo nên những thảm họa hàng không tiềm tàng. Theo Cục hàng không Liên bang Mỹ (FAA), có khoảng 9.000 con chim bị máy bay đâm trúng tại Mỹ mỗi năm và con số này chắc chắn không phải là tất cả vì còn khá nhiều những vụ chim tự đâm vào máy bay không được báo cáo khác.
Những vụ đâm vào chim thường không chỉ giết chết những con vật vô tội mà nó còn có thể làm bị thương các phi công nếu như chúng lao thẳng vào buồng lái. Ngoài ra, như đã nói nó cũng đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng tới sự an toàn của một chuyến bay bởi nhiều lúc chúng còn có thể gây hư hỏng động cơ của máy bay và dẫn tới nhiều sự cố nghiêm trọng khác.
Hậu quả của một vụ va chạm giữa máy bay và một con chim khi máy bay đang hạ cánh
Để tiến hành tìm hiểu rõ nguyên nhân về hiện tượng này của loài chim, một nhóm các nhà khoa học từ Trung tâm nghiên cứu thiên nhiên hoang dã thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ tại Ohio, kết hợp cùng hai trường ĐH khác là Indiana và Purdue đã sử dụng công nghệ thực tế ảo để nghiên cứu chi tiết hơn về hiện tượng này.
Các nhà nghiên cứu thấy rằng, những con chim mà họ nghiên cứu thường không thể tránh được những phương tiện giao thông có tốc độ di chuyển nhanh hơn 120 km/h. Về cơ bản, chúng vẫn có thể tránh được cái chết không may này bằng cách chọn đúng thời điểm được cảnh báo và chuyển hướng bay khác như trong sơ đồ đã được các nhà khoa học tính toán dưới đây.
Trong một thí nghiệm đi sâu hơn, các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm trên một con chim chìa vôi trong căn phòng tối. Bằng cách sử dụng công nghệ thực tế ảo, họ đã thử nghiệm con chim bị xe tải đâm nhiều lần với tốc độ từ 60 - 360 km/h (tốc độ bay thường thấy của một số máy bay nhỏ và tốc độ cất cánh của một số máy bay thương mại).
Sau đó khi tiến hành đo phản ứng của con chim, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng nó dường như phản ứng dựa trên khoảng cách chúng cảm nhận được với xe tải và thay vào đó thì bỏ qua tốc độ "khủng khiếp" mà chiếc xe tải đang lao tới.
Các nghiên cứu cũng thấy rằng, các loài chim thường có xu hướng bắt đầu bay khi đối tượng chỉ còn cách khoảng 30 mét. Đồng thời, do khoảng cách bắt đầu cất cánh và cảnh giác của loài chim có sự tương đồng với tốc độ của các phương tiện giao thông, nên chúng thường gặp nguy hiểm đúng vào những thời điểm mà tốc độ của các phương tiện cao hơn cả.
Trong khi hầu hết các loài chim đều có thể xử lý dễ dàng các tình huống với các đối tượng di chuyển chậm thì có vẻ như chúng lại gặp khó khăn trong việc tìm cách bay thoát được những đối tượng có tốc độ nhanh từ mức 120 km/h trở lên, giống như xe tải và máy bay.
Hiện nay một số sân bay dùng chó để xua đuổi chim, tránh các tai nạn đáng tiếc lúc cất cánh và hạ cánh.
Theo các nhà khoa học, nghiên cứu này sẽ cần phải được tiến hành thêm trong thời gian tới để kiểm tra xem kỹ thuật tránh né của các loài chim khác có tương đồng như vậy hay không. 
Thêm vào đó, các nhà khoa học cũng đã gợi ý một giải pháp về việc lắp đặt các đèn chiếu sáng đặc biệt trên máy bay giúp làm tín hiệu cảnh báo cho các loài chim từ xa. Hy vọng rằng, các nghiên cứu trên sẽ được tiếp tục hoàn thiện trong thời gian tới và sớm được áp dụng vào thực tiễn để giải quyết vấn đề nhức nhối này của ngành hàng không.



Tại sao băng Nam cực có màu xanh?


Một trong những cảnh tượng đáng kinh ngạc nhất ở Nam cực là các mảng băng màu xanh dương, gợn sóng lăn tăn giống như một đại dương bị đóng băng.
Các mảng băng màu xanh dương xuất hiện ở nơi gió và quá trình bay hơi cọ rửa sạch tuyết của các sông băng. Bề mặt trong mờ, được gió đánh bóng của băng phản xạ một màu xanh lam ngọc ấn tượng khi mặt trời vùng cực hé rạng phía trên đường chân trời. Nam cực hiện là nơi duy nhất trên Trái đất có các mảng băng màu xanh đặc biệt như thế này.
Băng màu xanh vô cùng trơn trượt, khiến việc đi bộ trên bề mặt là một thách thức. Song, mọi người vẫn mạo hiểm làm điều đó vì cơ hội được ngược dòng thời gian, do băng xanh nằm trong số ít những mảng băng lâu đời nhất ở Nam cực. Trên lục địa này, các nhà khoa học đã đào được băng xanh có tuổi thọ lên tới 1 triệu năm và vẫn đang tìm kiếm những mảng băng lâu đời hơn nữa.
Khi băng thuộc sông băng đông cứng lại lần đầu tiên, nó chứa đầy các bong bóng khí. Do băng bị chôn vùi và dồn ép băng trẻ hơn ở phía dưới lên trên, các mảng băng già hơn bắt đầu nhuốm màu xanh dương. Khi băng phát triển dày đặc hơn, các bong bóng khí ngày càng trở nên nhỏ hơn.
Các mảng băng màu xanh là đặc điểm độc nhất vô nhị ở Nam cực. Ảnh: Live Science
Không có hiệu ứng tán xạ của các bong bóng khí, ánh sáng có thể xâm nhập vào băng sâu hơn. Đối với mắt người, các mảng băng thuộc sông băng cổ xưa đóng vai trò như một màng lọc, hấp thụ ánh sáng đỏ và vàng, đồng thời phản xạ ánh sáng xanh dương, tạo nên các sắc thái màu xanh tuyệt đẹp của một sông băng.

Ngược lại, tuyết màu trắng vì nó chứa đầy các bong bóng khí. Tuyết phản xạ trở lại toàn bộ quang phổ của ánh sáng trắng, giống như nước soda mới rót có lớp bọt sủi tăm, sáng màu ở phía trên cùng.
Băng xanh thỉnh thoảng xuất hiện ở rìa Nam cực, nơi các sông băng đổ nhào ra biển. Việc băng tan mùa hè cũng có thể tạo ra các mảng băng xanh trơn nhẵn. Tuy nhiên, các vùng băng xanh thực sự hay xuất hiện nhất gần các rặng núi của Nam cực.
Các sông băng khổng lồ của Nam cực trông giống như các dòng sông đông cứng, di chuyển chậm. Khi những dòng chảy này vấp phải một rào cản, chẳng hạn như một rặng núi, lớp băng nằm sâu hơn bị đẩy lên trên, giống như nước chảy qua một tảng đá chìm ở đáy sông. Băng xanh cũng có xu hướng trồi lên trên mạn che gió của các ngọn núi, nơi những cơn gió dữ thổi bay tuyết và băng. Theo thời gian, các lớp băng già hơn lộ ra ngoài do quá trình bay hơi.
Băng xanh chỉ bao phủ khoảng 1% Nam cực, theo một nghiên cứu đăng tải năm 2010 trên tạp chí Antarctic Science. Các khu vực băng xanh thường trải dài khoảng vài km theo bất kỳ hướng nào.
Băng xanh của Nam cực háo ra chứa đựng một tài sản quý hiếm: thiên thạch. Hơn 25.000 thiên thạch đã được thu thập từ các khu vực băng xanh ở Nam cực. Băng thuộc sông băng đang bay hơi để lộ ra các thiệ thạch từng rơi xuống lục địa đóng băng này suốt quãng thời gian kéo dài hàng ngàn năm, tích tụ chúng vào một vùng nhỏ. Những người săn thiên thạch thường có các cuộc hành hương hàng năm tới khu vực băng xanh để soi quét băng tìm kiếm các viên đá mà họ mong muốn.
Các khu vực băng xanh cũng được sử dụng như đường băng để hạ cánh máy bay có bánh xe, thay vì ván trượt tuyết. Chính phủ các nước Italia, Australia, Na Uy, Nga và Mỹ đều đang vận hành các đường băng xanh như vậy ở Nam cực.v



Thứ Tư, 17 tháng 2, 2016

Loài cá có ngủ không?

Loài cá có ngủ không? Có. Tuy nhiên để biết khi nào cá ngủ thì các nhà nghiên cứu phải dựa trên quan sát hành vi.
Loài cá cũng có giấc ngủ. (ảnh minh họa)
Định nghĩa đơn giản của giấc ngủ là hoạt động mà mí mắt khép kín và tồn tại một mẫu sóng não đặc biệt trong vỏ não; vì thế, để xác định khi nào một người, một động vật có vú khác hoặc một con chim đang ngủ là rất dễ dàng.
Tuy nhiên, khi nói đến cá, định nghĩa này trở nên có vấn đề, bởi vì nó không có vỏ não cũng không có mí mắt. Như vậy, các nhà nghiên cứu phải dựa trên quan sát hành vi để xác định khi nào cá đang ngủ.
Thông thường khi một con cá đang "ngủ ", có bốn đặc điểm được quan sát thấy: (1) không hoạt động trong một thời gian dài; (2) ở trong một tư thế nghỉ (như cái đuôi rũ xuống); (3) một thói quen (như nghỉ ngơi tại cùng một thời điểm, và theo cách thức tương tự, mỗi ngày); và (4) giảm độ nhạy cảm với môi trường của nó (khó bị đánh thức).
Cá cũng giống như nhiều loài động vật khác đều ngủ nhưng điểm khác là khi ngủ không nhắm mắt, bởi vậy nên nhiều người nhầm tưởng. Đặc điểm của cá khi ngủ là dừng bơi và nó đứng im nhưng nghe có tiếng động thì nó rất nhạy để phát hiện và lẩn tránh.

Do đó, nhiều khi quan sát thấy cá đứng một chỗ nhưng cho tay vào vớt thì chúng quẫy và lẩn rất nhanh. Tùy từng loại cá mà chúng chọn mực nước để thích nghi khi ngủ, có loại nổi lên gần bề mặt nước nhưng có loại nép vào thân cây mọc dưới nước.